Friday, June 23, 2017

Trả lại nhân tính cho sự chết.


 

                                  Trả lại nhân tính cho sự chết.

                        Nguyễn Tiến Cảnh, MD.   

            Không ai biết được trong giờ lâm chung, những giây phút cuối cùng của đời người, người  bệnh sẽ sợ hãi ghê gớm, hay bằng an thanh thản sẵn sàng ra đi.  


                                                Trả lại nhân tính cho sự chết: Trách nhiệm của người Thầy thuốc.


            Nhưng khi con người phải ra đi, giã từ tất cả những gì thân yêu nhất của mình, không bao giờ trở lại, có thể có những bịn rịn, luyến tiếc, đôi khi hốt hoảng như mất mát một bảo vật, mà biết chắc chắn mình chẳng bao giờ có lại được. Sự an ủi vỗ về cảm thông với người  bệnh của người Thầy thuốc bên cạnh bệnh nhân lúc đó thật quả là vô giá và cần thiết.


                                                Y khoa tuyệt hảo có thay thế được tình cảm không?
            Khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại đã cho phép người Y sĩ không cần phải ở bên cạnh bệnh nhân đang cơn hấp hối,  mà vẫn có thể điều khiển, kiểm soát thời gian, và tình trạng sống chết của người  bệnh. Hồi xưa, khi Y khoa chưa đạt tới mức siêu đẳng như ngày nay, người Y sĩ là trung gian giữa những hiện tượng tự nhiên như sống và chết. Ngày nay, họ trở thành trọng tài của những kỹ thuật nhân tạo. Sự chết do đó đã được quan niệm dưới những góc cạnh khác. Tử thần đã được Y khoa hóa. Xã hội, người Y sĩ và bệnh nhân đã bắt đầu nhận thấy có một giới hạn, hay một khoảng cách giữa văn hóa và Y đạo. Họ bắt đầu tìm kiếm một phương thức mới về trách nhiệm của người Y sĩ đối với bệnh nhân trong khi hấp hối. Câu chuyện sau đây cho thấy hậu quả của việc Y học hóa Tử thần, và những khuyết điểm của sự thay đổi ấy.
            Bà M., 57 tuổi, bị ung thư vú ở thời kỳ cuối cùng, đã phải nhập viện nhiều lần vì tình trạng hô hấp bê bết. Bà ta chưa bao giờ chính thức ký giấy từ chối trị liệu để được chết, nhưng không rõ lý do tại sao bà lại từ chối nhập viện điều dưỡng, để cho người ta dễ dàng săn sóc bà. Trị liệu hóa học đã thất bại, mà giải phẫu thì không thể được mặc dù gốc ung thư chưa chạy đi nơi khác (metastases). Bà vẫn sinh hoạt hàng ngày bình thường,  và không đau đớn nhiều. Tuy nhiên gia đình bà cảm thấy không còn có thể tiếp tục chăm sóc, và phụng dưỡng cho bà được nữa, đã yêu cầu Bác sĩ khuyên bà ký giấy “Đừng cứu sống/Do not resuscitate-DNR)” nếu bị nguy kịch hôn mê. Bà không hoàn toàn chấp nhận tình trạng hết thuốc chữa của bà. Bà vẫn muốn được cứu sống, để nhìn ngắm con cháu bà càng lâu càng tốt.
            Một hôm bà trở bệnh bất ngờ. Gia đình bà đưa bà vào bệnh viện cấp cứu. Con gái bà đã thảo luận với Bác sĩ về tình trạng của bà, và giấy yêu cầu “Đừng Cứu Sống” đã được ký. Nhưng khi tình trạng của bà sáng sủa trở lại, bà nhất mực xin hủy bỏ giấy đã ký. Bác sĩ nói cho bà hiểu bệnh trạng của bà vô phương cứu chữa, bà đang trong tình trạng coi như hấp hối. Chữa trị chỉ là tạm bợ và vô ích. Bác sĩ không có bổn phận phải cứu sống bà. Thế rồi tình trạng của bà M. tiếp tục khả quan, không có dấu hiệu gì chứng tỏ tử thần gần kề nữa. Chuyên viên Y đạo cũng đã được tham khảo ý kiến, và cắt nghĩa cho bà hiểu rằng:  nếu có tiếp tục chữa trị cho bà, cũng không thể cứu sống bà được, do đó mục đích của Y khoa không còn ý nghĩa, vì vậy Bác sĩ không buộc phải thi hành ước nguyện của bà. Sau đó bà được chuyển về phòng riêng, và ngày hôm sau bà đã qua đời. Trong lúc hấp hối, bà luôn luôn lẩm bẩm yêu cầu: “Tôi biết Bác sĩ không bắt buộc phải cứu sống tôi, nhưng làm ơn hãy để cho tôi sống !”
                                               


                                                Những vấn đề khó giải quyết.
Nguồn: Catholic Health Association of the United States.
Nguồn: Catholic Health Association of the United States.
            Câu chuyện bà M. đặt ra rất nhiều thắc mắc nan giải liên quan đến ý niệm về sự chết gần kề trong phạm vi Y khoa. Người ta tự hỏi “Cái gì đã xẩy ra lúc đó?” “Có điều gì sai quấy?” “Người Thầy thuốc có phải làm cái gì khác thường không?”
            Phần chia sẻ dưới đây chỉ là cố gắng giải đáp phần nào những câu hỏi khó giải quyết ấy. Hiểu rõ chuyện “Y học hóa Tử thần” trong Y đạo là ta có thể thấy cái chết của bà M. quá ư thê thảm, và mất hết tình người.
            Y đạo là kim chỉ nam giúp người Y sĩ làm sáng tỏ, và giải quyết những vấn đề khó khăn của trường hợp bà M. Tuy nhiên, chính những khúc mắc về cái chết của bà lại cho ta thấy rằng:  những quan niệm Y đạo như quyền được tự chết, và những phương cách trị liệu bằng thuốc, và khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại cũng chẳng có thể giải quyết được những lý luận tranh cãi về giá trị của sự sống; ngay cả những nguyên tắc Y đạo cũng không bảo đảm được phương cách trị liệu có tính nhân bản cho bệnh nhân trong những giờ phút lâm chung. Sự Sống, Đau Khổ, và Sự Chết, là những thắc mắc mà Dostoyevsky gọi là “Vấn đề muôn thuở” mà con người không bao giờ có thể giải quyết được một cách hoàn hảo. Có lẽ điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm được là cố gắng giải đáp những vấn đề khó giải quyết với hết ý thiện, lòng trắc ẩn cảm thông,  và nhiệt tình nồng cháy của lương tâm, chấp nhận may rủi trong sai lầm, luôn luôn cởi mở sẵn sàng đón chờ những cảm nhận mới đến từ tâm tư khắc khoải về sự sống và sự chết. Người Y sĩ thường không mấy thỏa mãn với những giải đáp với điều kiện rồi từ đó đi tìm những nguyên tắc luật lệ dựa trên những chỉ dẫn có sẵn, để tạo ra những bó buộc Y đạo đối với bệnh nhân. Trong những trường hợp như vậy, người ta thường nại cớ “luật bắt buộc thế” hay “luật cho phép làm”. Lúc đó thực ra người Y sĩ đã vượt qua cái bổn phận mà người ta gọi là “luật cho phép”. Họ đã không phải chỉ dựa vào những chỉ dẫn của nhà thương, mà còn nại cớ nguyên tắc Y đạo biểu làm. Họ quên, trong trường hợp bà M., rằng chính họ đã vi phạm những nguyên tắc chỉ dẫn có sẵn là “phải tôn trọng ước nguyện trị liệu của người bệnh” trong những giờ phút cuối cùng của đời bà.
            Y khoa tân kỳ, Y đạo, và luật pháp vẫn chưa đủ để giúp người bệnh ra đi một cách an lành với đầy đủ tình người.
            Bà M. đã được chữa trị một cách tuyệt hảo mà Y khoa hiện đại đã có thể cung ứng hầu có thể đương đầu với Tử thần. Đó là kỹ thuật, Y đạo, và luật pháp. Tuy nhiên cả ba cái đó đều thất bại, đã không thể giúp người bệnh chết một cách an lành, với đầy đủ nhân cách của một con người nhân bản. Đem phân tích, chúng ta sẽ thấy những thiếu sót cơ bản:
                        - Thứ nhất, sự chết thường được coi như một sự kiện (an event), trong khi thật sự nó là cả một tiến trình (progress) âm thầm và liên tục lâu dài. Theo E. Kubler-Ross trong “On Death and Dying” xuất bản năm 1969, thì chết là một tiến trình năng động xẩy ra một cách liên tục trong đời sống, và có những giai đoạn rõ ràng. Đời người là sự sống đang đi lên, đồng thời cũng là sự chết đang đi xuống. Đa số những người săn sóc bệnh nhân không là chứng nhân của những giây phút của sự chết chóc ấy, nên họ không cảm nhận được giá trị của những tình cảm thắm thiết, mà bấp bênh mơ hồ trong tiến trình sự chết. Do đó nếu không có sự giúp đỡ an ủi của người Thầy thuốc, của gia đình, xã hội, và tôn giáo, thì phương cách trị liệu chưa được hoàn hảo. Gia đình bà M. đã mệt mỏi vì phải săn sóc bà quá lâu. Riêng bà cũng đã mất sự thân mật, tình liên đới với những người có trách nhiệm săn sóc bà, vì họ phải làm việc quá cực nhọc trong một hoàn cảnh quá bận rộn, không phải một lần mà dòng dã năm này qua năm nọ. Do đó chẳng ai còn để ý đến ước vọng chối từ, hoặc muốn sống của bà. Chính những giai đoạn trong tiến trình của sự chết đó, lại có thể giúp họ cùng với bệnh nhân cảm nhận được bước đường dẫn đến sự chết một cách hữu lý, và đầy tình nhân ái. Cũng chẳng ai thèm tìm hiểu lý do tại sao có lúc vì quá buồn nản, thất vọng, bà đã từ chối sự chăm sóc của mọi người trong khi bà vẫn còn muốn sống.
                        - Thứ đến, phương pháp trị liệu hiện đại cho người bệnh trong cơn hấp hối nói lên sự đáp ứng cố tình, và có sắp đặt một cách máy móc của người Y sĩ mà không đếm xỉa đến mặt tình cảm. Khi được hỏi cái gì làm cho người sắp chết sợ hãi nhất, thì người Y sĩ thường trả lời là đau đớn.
            Thiển nghĩ và theo Pearlman, thì không phải là đau, mà chính là sợ sẽ là gánh nặng cho gia đình xã hội, sợ vì mất chức năng, sự tự lập và tình liên đới. Ngoài ra bệnh nhân còn phải vật lộn với những lo lắng, thắc mắc về tình cảm, và cuộc sống tinh thần đời sau, sự thất vọng và cuộc sống vô nghĩa của đời người trong những giây phút cuối cùng điên loạn,  hoặc vật vờ vô tri giác. Những vấn đề tâm lý xã hội này, kể cả sự đau đớn, có lẽ chẳng bao giờ có thể giải quyết một cách thỏa đáng, và hữu lý tận gốc rễ.
            Chính tính cách chủ quan về nhiều khía cạnh của sự chết, đã tạo nên nền Sinh-y-học khách quan, để rồi chính nó lại không muốn, hay không có thể đối đầu được với Tử thần. Khi phân tích ý nghĩa uẩn khúc đằng sau những câu như: “Đừng Cứu Sống” (Do Not Resuscitate / DNR), “Chích cho một Mũi ân huệ” (Administer an Injection), “Hãy Cắt Đứt Hệ Thống Trợ Sinh / Rút ống” (Terminate Life Support), ta thấy rõ ràng là:  người Y sĩ tiên khởi chỉ nhằm vào ý nghĩ và hành động tức thời, hơn là ý nghĩ thầm kín trong câu nói, hoặc những lý do thúc đẩy họ phải đương đầu với Tử thần. Ngay cả khi người Y sĩ thực sự muốn ở bên cạnh người bệnh để dìu họ đến gần sự chết một cách êm đềm, thì thường cũng có những lẫn lộn giữa những điểm căn bản của Y đạo, bởi vì chính những điều kiện, và chỉ dẫn có sẵn cũng không được rõ ràng như đã xẩy ra trong trường hợp bà M.. Hơn nữa, hiển nhiên là sợ hãi, chán nản, mặc cảm tội lỗi, bối rối pha lẫn với hy vọng yêu thương là những động lực chính đi đến quyết định tự tạo ra cái gọi là Y đạo của những người can dự vào nội vụ, kể cả người Thầy thuốc , và vị Cố vấn. Dù vậy, những thúc đẩy, và nhu cầu vô lý này cũng không bao giờ được đề cập đến, và bàn luận một cách công khai và xây dựng. Hình như thái độ “Tôi vô can, thờ ơ và duy luật lệ” đó của người Y sĩ đối với cái chết đã khiến họ dửng dưng không muốn hiểu, và cảm thông những nỗi niềm của người bệnh trong cơn hấp hối.
            Sau cùng, người Y sĩ trong trường hợp này, đã chia sẻ nghề nghiệp chuyên môn của họ với bệnh nhân một cách lệch lạc. Họ nghĩ rằng:  họ chỉ thi hành những chỉ dẫn có sẵn của nhà thương và Y đạo, và như vậy họ đã hoàn thành trách nhiệm luân lý của họ. Họ đã không nhận biết rằng chăm sóc bệnh nhân trong cơn hấp hối là bổn phận của người Thầy thuốc, kỳ vọng của tình liên đới người với người, giữa bệnh nhân và người Y sĩ. Thực ra mà nói, chính những chỉ dẫn có sẵn cũng có những thiếu sót như ngôn ngữ mơ hồ, quan niệm lệch lạc, nhất là thiếu tính cách uyển chuyển. Mỗi chỉ dẫn, mỗi câu nói, có thể được hiểu một cách khác nhau tùy người, ngay cả những người trong cùng một gia đình như trường hợp bà M..
            Sự tin tưởng vào những chỉ dẫn, nguyên tắc và tài liệu một cách máy móc, đã làm giảm mất nhiệm vụ và cơ hội chữa lành con bệnh của người Y sĩ.
            Trong khi đó tử thần tự nó nói lên sự cấp bách của bệnh nhân là đòi hỏi người Thầy thuốc phải hành động. Dĩ nhiên ước vọng khẩn thiết của người bệnh là muốn Bác sĩ chú ý lắng nghe những ao ước của họ, tôn trọng lời hứa, và giúp đỡ ủi an họ. Nếu những đòi hỏi này có thật trong đời sống con người thì chắc nó cũng cấp thiết khi con người đang trong cơn hấp hối. Có lẽ điều tuyệt hảo, và dễ dàng nhất mà các Bác sĩ có thể làm cho bà M. là đơn thuần hiện diện bên cạnh bà, với tư cách người với người, biết cảm thông, thực tâm mong muốn chia sẻ tiến trình của Tử thần, và những nỗi niềm đớn đau của bệnh nhân và sự chết.



                                                Lời bàn.
Chăm sóc không chỉ bằng thuốc men. Nguồn: blogs.jpmsonline.com
Chăm sóc không chỉ bằng thuốc men.
                        Trường hợp bà M. cho ta thấy nếu chỉ đơn thuần đem khoa học kỹ thuật đến với bệnh nhân trong cơn hấp hối,  thì vô tình đã tạo ra một sự cách biệt giữa con người và khoa học, bởi vì khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó phối hợp liên kết với con người. Phải chăng khi người bệnh nói lên hoặc đòi hỏi “Quyền Được Chết / Right to Die” là chính lúc họ đang phản đối chống lại loại săn sóc trị liệu máy móc vô nhân tính ấy. Với nhãn quan đó, ý của Derek Humphry trong Final Exit (Delta Trade; 3rd edition November 26, 2002), và ý kiến của nhiều người, cũng như của một số nhà Lập pháp có khuynh hướng nghiêng về phía đồng ý để Bác sĩ giúp bệnh nhân chết / tự tử (physician assisted suicide) thực ra không nhất thiết là muốn người Thầy thuốc trở thành những kẻ sát nhân, mà điều thúc bách hơn cả là muốn người Y sĩ và mọi người / xã hội hiểu rằng, có những lúc tâm trạng tình cảnh của người “đang chết” bê bết, tồi tệ, thảm thê hơn cả chính sự chết.
            Con người là linh ư vạn vật, có xác có hồn, và trí khôn. Do đó bản tính của những ước mơ, băn khoăn thắc mắc của người bệnh trong cơn hấp hối cũng là hỗn hợp của cả xác lẫn hồn,  và đặc thù cá biệt tùy theo từng người. Thời gian hấp hối có thể là lúc kinh hoàng bấn loạn nhất của kiếp người, sự hiện diện của người Thầy thuốc bên cạnh bệnh nhân hiển nhiên sẽ là những an ủi vỗ về, là bảo đảm chắc chắn cho những giá trị tuyệt hảo thâm sâu cùng kín của người bệnh, và là người bạn chí thân đáng tin cậy nhất có khả năng dẫn đưa người bệnh về bên kia thế giới, cõi chết một cách an bình thư thái. Bệnh nhân có thể muốn tìm cái chết, nhưng có lẽ chỉ với một ý nghĩa tiêu cực nào đó. Họ chỉ không muốn phải liên tục bước qua ngưỡng cửa Tử thần đầy gian nan khốn khổ ấy. Những thành công vượt bực trong phương pháp trị liệu của Y khoa hiện đại với mục đích giúp người bệnh hết kinh hãi tinh thần đớn đau thể xác, và giảm thiểu số người muốn tìm cái chết / tự tử hẳn cũng chỉ muốn hướng đến những viễn tượng thâm sâu đó mà thôi.
            Chết là đi vào thế giới vô định vượt khỏi tầm tay của con người, cho nên người Y sĩ sẽ cảm thấy thoải mái dễ chịu, và tự tin vào những hiểu biết và phương cách trị liệu của mình. Hỏi những người bệnh đang hấp hối cảm tưởng về sự chết, thì đa số cho rằng họ linh cảm là sẽ đi vào thế giới lỳ lạ chưa ai biết. Đi rồi sẽ chẳng bao giờ trở lại. Do đó thực sự chẳng có ai biết thế giới bên kia nó như thế nào.
            Cũng chẳng ai trong chúng ta có thể biết được con bệnh phải chuẩn bị những hành trang gì trong những ngày cuối cùng của cuộc đời để sẵn sàng cho cuộc hành trình đó. Chúng ta là những người có niềm tin tôn giáo. Chúng ta tin vào Chúa / Phật. Chết là đi về thế giới đời sau, thế giới vĩnh cửu: Sinh ký tử qui. Thế giới đó là hiện thân và hậu quả của thế giới hữu hình phù du mà chúng ta đang sống. Làm tốt, sống thiện thì được hưởng lành. Sống độc làm ác thì phải chịu tội. Nhưng còn những người không có niềm tin tôn giáo, không tin vào đời sau thì sao? Thực vậy, không hiểu sao khi Tử thần kề sát người bệnh, thì ông Bác sĩ thường hay tê cứng, mất hết cảm xúc? Chính lúc đó lại là lúc mà người bệnh cần có sự hiện diện của người Thầy thuốc như sự hiện diện của Linh mục linh hướng. Hình như là người Y sĩ đã được huấn luyện, hoặc tự tạo cho mình một sự cách biệt tình cảm đối với bệnh nhân, bởi vì nếu người Y sĩ và bệnh nhân có những liên đới tình cảm với nhau,  thì khi người bệnh hấp hối qua đời người Y sĩ sẽ khó tránh khỏi những xúc động hốt hoảng. Tuy nhiên đối với bệnh nhân thì lại khác, nhất là khi người bệnh trong cơn đau đớn khủng khiếp, thì chính cái nhân tính con người tự nhiên của người Y sĩ lúc đó lại là những liều thuốc có quyền năng vô hạn.
            Khi mà sự chết không còn được coi như là một biến cố, một sự kiện có tính cách máy móc kỹ thuật như rút ống thở, ngừng trợ sinh (withdrawl of life support) hoặc chuyện thi hành ước nguyện của bệnh nhân có tính cách pháp luật (living will), mà được coi là một sự chuyển tiếp thần bí từ thế giới phù du,  sang thế giới đích thực,  thì lúc đó Thần chết sẽ có sức chuyển thông trách nhiệm Y đạo của người Y sĩ đến cho người bệnh. Hiện nay người ta đang cố gắng giải quyết sự chết bằng pháp luật. Nhưng xét cho cùng lẽ lương tâm, chẳng có luật lệ khách quan nào lại có thể ngăn cản người Thầy thuốc trách nhiệm đến với người bệnh trong cơn hấp hối. Ý niệm đó đã được Kierkegaard , Ông Tổ của thuyết Hiện sinh, gọi là “sự thật chủ quan”, trong đó người Thầy thuốc và bệnh nhân gặp nhau với tư cách là những người khốn khổ cảm thông nhau,   mà không ai có thể chê trách hoặc làm tổn thương được; không có phương cách trị liệu nào, Y học nào có thể ngăn cản cấm đoán nổi. Đó là sự tương phùng giữa con người với con người, không phải tương phùng Y học kỹ thuật. Đó là nhiệm vụ chính của người Thầy thuốc trong Y khoa cổ điển. Hippocrates 400 năm trước Thiên chúa, đã viết trong aphorism: “Nghệ thuật trị liệu gồm ba chủ điểm là bệnh tật, người Y sĩ, và bệnh nhân. Bệnh nhân và người Thầy thuốc là những người bạn đồng hành luôn luôn cùng nhau sát cánh chống lại bệnh tật !”.
            Người Thầy thuốc là chứng nhân và Sứ giả của Thần chết trong thời của Lương Y như Từ Mẫu trong Y Học Đông Phương.
            Buồn thay, thời của tình người với người không còn nữa. Chính cái tình người đó mới là nhiệm vụ  đạo đích thực, ngàn đời, và tối quan trọng của người Thầy thuốc đối với bệnh nhân trong cơn hấp hối. Câu nói cuối cùng của bà M., “Tôi biết Bác sĩ không buộc phải cứu tôi sống, nhưng làm ơn hãy để tôi sống !”, rất đáng cho ta suy nghĩ. Sự sống là do Thượng đế ban cho con người, không ai có quyền hủy bỏ nó, kể cả chính bản thân mình.



                                                “Lương Y như Từ Mẫu” – Một góp ý.
Chăm sóc toàn diên. Nguồn: www.physio-pedia.com
Chăm sóc toàn diện.

            Tôi đưa bài viết này cho một anh bạn đọc, và xin ý kiến. Anh bạn này người Công giáo, đồng đạo với tôi, nhưng chắc chắn anh ngoan đạo hơn tôi nhiều lắm. Anh rất kính trọng, và nể vì các Cha, nhất là Giám mục. Anh không có ý kiến nhiều về những vấn đề chuyên môn Y khoa, nhưng anh đặt nặng vấn đề tôn giáo, nhiệm vụ của Linh mục. Anh nói:
            “Những điều anh viết về bổn phận của người Y sĩ đối với bệnh nhân lúc hấp hối, ngoài việc chữa trị chuyên môn, xem ra cũng rất cần thiết có Linh mục bên cạnh người bệnh lúc sắp lìa đời. Phải chăng Linh mục chỉ đến với người bệnh khi được mời, và để làm vài phép Bí tích cần thiết rồi ra đi? Các Linh mục còn cần phải làm những gì đặc biệt khác hơn là những công việc thường lệ đó, như người Thầy thuốc chỉ biết chữa cho bệnh nhân hết đau đớn thể xác?”
            Người Y sĩ là “Lương Y như Từ Mẫu” thì vị Linh mục cũng phải là một “Chúa thứ hai / Alter Christus” sống với tâm lý, tâm tình, tâm tư, tậm trạng, nỗi lo sợ buồn vui, và những khắc khoải lo lắng bấn loạn hãi hùng của người bệnh lúc lâm chung, với lòng trắc ẩn cảm thông như “Sống” và “Chết” với người bệnh, để dẫn đưa người bệnh đến gần Thượng đế hơn, một cách êm đềm thanh thản, và chấp nhận.  ./.




Lisa Pham [Khai Dân Trí 181] Live Stream ngày 23/06/2017

Thursday, June 22, 2017

KHÔNG AI ĐẤU TRANH ĐÒI HỎI NHÂN QUYỀN VỚI MỘT THỂ CHẾ PHI NHÂN BẢN




Chủ đề:Chôn vùi hẳn Cơ chế CSVN để Thăng hóa Xã hội & Phát triển Kinh tế:

Bài 02/I
(Bài 02 thuộc PHẦN I)

KHÔNG AI ĐẤU TRANH ĐÒI HỎI NHÂN QUYỀN
VỚI MỘT THỂ CHẾ PHI NHÂN BẢN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 15.06.2017.
Links:
1. Website : http://VietTUDAN.net/
2. Facebooks : (a) Phuc Lien Nguyen, (b) Tudan Tudodanchu
3. Twitter: Phuc Lien Nguyen


Inline image 1

PHẦN I
(Xin xem Bài MỞ ĐẦU cho Chủ đề đăng kèm dưới đây)

THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ của đảng CSVN là việc sử dụng quyền quản trị Quốc gia để vi phạm bất công đối với tài sản chung của Quốc gia và đối với tài sản riêng của người Dân. Đâu có BẤT CÔNG, thì đó có ĐẤU TRANH ! Như vẫy hệ luận trực tiép từ Bất công vi phạm bởi đảng CSVN chính là việc Đấu tranh của Dân một nước chống lại Bất công do CSVN gây ra. Từ nhiều thập niên, những nhà trí thức trí ngủ luôn luôn đấu tranh dưới phạm trù NHÂN QUYỀN lùng bùng co dãn như dây thung để CSVN dễn lừa đảo. Trong phạm trù co dãn lùng bùng ấy, những quan điểm về Tự do, Dân chủ, quyền Lập hội, quyền Tự do Tôn giáo… được nêu ra để đấu tranh mà CSVN dễn lừa đảo, đồng thời quần chúng cũng không tha thiết cho lắm. Chính vì vậy mà cuộc đấu tranh nhiều thập niên không mang lại kết quả cụ thể. Ngày nay, từ vấn đề THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ, chúng ta đấu tranh cụ thể cho NHÂN SINH chống lại Bất công cướp bóc phương tiện nuôi sống thân xác của người dân. Quần chúng tất nhiên hoàn toàn tha thiết và hiểu thấu vấn đề NHÂN SINH này vì nó liên hệ trục tiếp đến bụng đói, QUYỀN DẠ DẦY (Stomach Right) mà CSVN không thể cắt nghĩa đây là Đây là đấu tranh Chính trị mà chúng thường gán cho những ai đấu tranh cho Tự do, Dân chủ…NHÂN QUYỀN. Hãy bỏ những Phong trào đấu tranh NHÂN QUYỀN lùng bùng co dãn cũ rích để chuyển sang đấu tranh NHÂN SINH, DÂN SINH cụ thể đối với quần chúng mà CSVN không thể vu khống đây là đấu tranh Chính trị.



Từ cuộc Cách Mạng Pháp 1789, Tổ chức quản trị Xã hội phải lấy cá nhân sống trong Xã hội ấy làm trọng tâm. Quyền lực quản trị đến từ Cá nhân chủ. Một Xã hội gồm nhiều Cá nhân, nên quyền lực quản trị phải đến từ đa số Cá nhân quyết định mà người ta gọi là DÂN CHỦ. Cuộc Cách Mạng đã lật đổ thứ quyền lực phong kiến đến từ sự cấu kết dòng tộc vua chúa và thần quyền. Cá nhân trong cộng đồng Xã hội có bản chất chính yếu sau đây: (1) Mọi người BẰNG NHAU (Egalité); (2) Mọi người đối sử với nhau trên tinh thần BẠN HỮU (Fraternité); và (3) Mỗi cá nhân có quyền TỰ DO (Liberté). Ba Tinh thần căn bản này phải được tôn trọng trong một Thể chế Chính trị được xây dựng gọi là theo TINH THẦN CỘNG HÒA. Bản Hiến Pháp quy định những nguyên tắc xây dựng Thể chế Chính trị Quốc gia tôn trọng và phát triển ba Tinh thần căn bản nơi mỗi Cá nhân: BẰNG NHAU (Egalité), BẠN HỮU (Fraternité) và TỰ DO (Liberté). Một nước muốn giữ lại Vua như đại diện cho Dân cũng phải xây dựng thực chất Thể chế Chính trị trên TINH THẦN CỘNG HÒA thông qua Bản Hiến Pháp do Dân quyết định. Người ta gọi đây là Thể chế Quân chủ Lập Hiến vẫn lấy ba bản chất trên đây của mỗi Cá nhân làm nền tảng.

Với Bài QUAN ĐIỂM dưới đầu đề “KHÔNG AI ĐẤU TRANH ĐÒI HỎI NHÂN QUYỀN VỚI MỘT THỂ CHẾ PHI NHÂN BẢN”, chúng tôi xin đề cập đến những khía cạnh sau đây:

=> Hai Thể chế Chính trị tại Việt Nam

=> Thể chế CSVN là phi Nhân bản

=> Ai đấu tranh đòi Nhân Quyền với CSVN là “mát dây điện”



Hai Thể chế Chính trị tại Việt Nam

Từ năm 1954, Việt Nam bị chia đôi thành hai Miền lấy vĩ tuyến 17 làm lằn ranh: Miền bắc Vĩ tuyến mang Thể chế Chính trị Cộng sản dưới quyền độc tài độc đảng toàn trị mà Hiến Pháp chỉ là sản phẩm của đảng CSVN chứ không do Dân bầu chấp thuận; Miền nam Vĩ tuyến có Thể chế Chính trị Tổng thống chế trên căn bản của TINH THẦN CỘNG HÒA của Cách Mạng Pháp có Hiến Pháp được Dân chấp nhận. Lá Cờ biểu tượng của Thể chế Miền Bắc là Cờ Đỏ Sao Vàng mà Hồ Chí Minh rập đúng lá Cờ của Phúc Kiến bên Tầu. Lá Cờ biểu tượng của Thể chế Miền Nam là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, gọi là Cờ Quốc gia, đã có từ thời Vua THÀNH THÁI nhà NGUYỄN.

Thể chế Chính trị Miền Nam trải qua hai nền CỘNG HÒA (Đệ I và Đệ II Cộng Hòa) do Dân, vì Dân và cho Dân trong đó 3 Bản chất Cá nhân (1) BẰNG NHAU (Egalité), (2) BẠN HỮU (Fraternité) và (3) TỰ DO (Liberté) được Thể chế tôn trọng và nâng đỡ phát triển. Nền Giáo dục Tuổi trẻ được tổ chức miễn phí với Chương trình giáo dục khai phóng Nhân bản. Nền Kinh tế lấy Mô hình Kinh tế Tự do và Thị trường làm khuôn mẫu với Tư hữu những phương tiện sản xuất và những kết quả sản xuất. Xã Hội Miền Nam được thăng tiến hài hòa và Kinh tế phát triển mạnh sánh với các Quốc gia trong vùng mà Thủ đô Sài Gòn được các Quốc gia khác gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông”.

Thể chế Chính trị Miền Bắc là Thể chế Cộng sản rập theo khuôn mẫu của Đệ III Quốc tế Cộng sản. Đảng CSVN được tiên thiên nắm toàn quyền cai trị Quốc gia từ Lập pháp, Hành pháp đến Tư pháp. Nền Giáo dục chú tâm đến tuyên truyền, hấp thụ và thi hành Chủ thuyết Chính trị Mác-Lê. Giao tế Xã hội đặt trên dối trá xảo quyệt giữa người với người. Mô hình Kinh tế là Kinh tế Tập quyền và Chỉ huy do đảng CSVN hoàn toàn hoạch định. Người dân không có quyền Tư hữu những phương tiện sản xuất và những kết quả sản xuất. Hợp tác xã phân phối tiêu thụ thuộc quyền đảng và nhà nước do đảng chỉ định. Hậu quả là nền Kinh tế đói nghèo.

Được sự hỗ trợ toàn diện của Thế giới Cộng sản, đảng CSVN miền Bắc đã mở cuộc xâm lăng, bằng võ lực, Miền Nam dưới Chính thể VIỆT NAM CỘNG HÒA để đặt để lên đầu Dân chúng Miền Nam cái Chệ độ CSVN độc đảng toàn trị từ Miền Bắc. Từ năm 1975, đã trải qua 42 năm dưới Chế độ CSVN độc đảnbg toàn trị, Xã hội Việt Nam bị tha hóa đến thác loạn, Kinh tế thụt lùi rất xa đối với các Quốc gia trong vùng, thậm chí còn thua kém cả Lào và Cao Mên.


Thể chế CSVN là phi Nhân bản.

Đảng CSVN đã không lấy bản chất con người Cá nhân (1) BẰNG NHAU (Egalité), (2) BẠN HỮU (Fraternité) và (3) TỰ DO (Liberté) làm nền tảng để xây dựng Thể chế Chính trị điều hành Xã Hội và phát triển Đất Nước. Hiến Pháp chỉ là sản phẩm của đảng CSVN. Điều 4 của Hiến Pháp đã tiên thiên chỉ định đảng CSVN độc nhất nắm trọn quyền bính Quốc gia. Những Cá nhân bị truất hữu những phương tiện sản xuất để hoàn toàn trở thành đơn vị phục vụ cho Kinh tế mà đảng nắm quyền hoạch định. Như vậy dân chúng chỉ còn là phương tiện mà đảng sử dụng. Tiêu thụ cũng do đảng hoạch định phân phối. Con người cá nhân đã trở thành như những súc vật do đảng chỉ định làm việc và phân phối cho đồ ăn để sống.

Dưới danh xưng Đất Nước là sở hữu của nhân dân, nhưng thực chất là ở trong quyền quyết định sử dụng của đảng CSVN, điều đó có nghĩa là Đất Nước, mọi tài nguyên, đều nằm trong tay đảng CSVN quyết định.

Tóm lại, một Thể chế Chính trị mà độc đảng tự nhận quyền cai trị Quốc gia, Hiến pháp chỉ là sản phẩm của độc đảng, người Dân bị coi như phuơng tiện làm việc phục vụ đảng như những con trâu con bò không hơn không kém và tất cả tài nguyên Đất nước đều do độc đảng quyết định sử dụng phân phối, thì con người sống trong Thể chế ấy không còn Nhân phẩm một con người nữa.

Tất nhiên người ta buộc phải gọi Thể chế Chính trị ấy (CSVN) là THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ PHI NHÂN BẢN.


Ai đấu tranh đòi Nhân Quyền với CSVN là “mát dây điện”

Xin cắt nghĩa tiếng bình dân gọi “mát dây điện” nghĩa là gì ? Đó là ám chỉ người trong đầu suy luận không trúng “logique”, không khùng hẳn, nhưng ương ương dơ dở như có dòng điện óc bị mát.

Tại sao chúng tôi gọi những người hay những Phong trào đấu tranh đòi CSVN phải cải thiện Nhân Quyền là “mát dây điện” ? Tại vì việc đòi hỏi này thiếu “logique”. Nn tảng xây dựng Thể chế CSVN là phi Nhân Bản rồi, nghĩa là phế bỏ Nhân Quyền, thì làm sao đòi hỏi họ tôn trọng Nhân Quyền. Chế độ CSVN đã chà đạp Nhân Phẩm, Nhân Quyền ngay từ khởi thủy, thì làm sao cứ quỳ mọp xuống, van lậy CSVN hãy nới rộng Nhân Quyền. CSVN không có Nhân Quyền, làm sao chúng nới rộng được. Chính người CSVN không “mát dây điện” vì họ đã chà đạp Nhân Quyền, nên không thể nới rộng Nhân Quyền. Chính cái người hay cái Phong trào đòi CSVN nới rộng Nhân Quyền mới là người hay Phong trào “mát dây điện” !
Khi những người hay những Phong trào đấu tranh đòi Nhân Quyền với CSVN thì chính họ hay chính Phong trào của họ đã tuyên bối với mọi người dân VN và Thế giới rằng họ đã chấp nhận Thể chế CSVN được xây dựng đứng đắn dựa trên căn bản Nhân Quyền rồi. Bây giờ họ chỉ yêu cầu CSVN cải thiện Nhân Quyền mỗi ngày mỗi tốt hơn để đến kiện toàn kéo dài cái Cơ chế CSVN lên đầu Dân Tộc cho đến “muôn năm”. Những ai đòi Nhân Quyền là những người chấp nhận kéo dài mãi Cơ chế CSVN.

Vậy trong trường hợp nào, đấu tranh đòi hỏi Nhân Quyền mới khỏi bị coi là “mát dây điện” ?

Đó là trường hợp đới với những Thể chế Chính trị đã xây dựng Chế độ dựa trên nền tảng ba bản chất con người (1) BẰNG NHAU (Egalité), (2) BẠN HỮU (Fraternité) và (3) TỰ DO (Liberté) thuộc TINH THẦN CỘNG HÒA của Cách Mạng Pháp 1789. Khi người dân đã chấp nhận Hiến Pháp cho phép xây dựng Thể chế Chính trị Cộng Hòa rồi mà Thể chế này bị một số Lãnh đạo làm cho xuống cấp, thì người Dân có quyền chính đáng đứng lên đòi những Lãnh đạo này phải tôn trọng Nhân Quyền để kiện toàn Chế độ, để kéo dài Thể chế tốt đẹp hơn cho người Dân. Như vậy, chúng ta đòi hỏi cải thiện Nhân Quyền chỉ đối với những Thể chế Chính trị đã đặt nền tảng xây dựng Thể chế trên Nhân bản cá nhân, trên Nhân Quyền của từng người !

Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã đạp đổ Thể chế Phong kiến dựa trên quyền dòng tộc cấu kết với Thần quyền và nêu cao TINH THẦN CỘNG HÒA để chỉ đạo việc xây dựng những Thể chế Chính trị tôn trọng và làm phát triển Nhân Bản cá nhân (1) BẰNG NHAU (Egalité), BẠN HỮU (Fraternité) và (3) TỰ DO (Liberté). Không ai đấu tranh đòi hỏi Thể chế Phong kiến cải thiện NHÂN QUYỀN, vì đó là "mát dây điện" ! Phải Cách Mạng đạp đổ Thể chế Phong kiến mà thôi !

Cũng vậy, không ai đi đòi hỏi cải thiện NHÂN QUYỀN đối với Cơ chế CSVN phi nhân bản vì đó là "mát dây điện"! Phải đứng lên làm CÁCH MẠNG chôn vùi hẳn cái Cơ chế CSVN phi nhân bản này đi mà thôi !

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 15.06.2017
Facebooks :  (1) Phuc Lien Nguyen  & (2) Tudan Tudodanchu
Chú thích : Một số người vì phe nhóm, đã cố tình viết lệch lạc về Lý Lịch của tôi, nên tôi xin phép cho ở đây cái Link
                       https://www.facebook.com/viettudan /



---o0o---






Bài 00:

Bài MỞ ĐẦU cho Chủ đề
CHÔN VÙI HẲN CƠ CHẾ CSVN
ĐỂ THĂNG HÓA XÃ HỘI & PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.05.2017. Cập nhật 01.06.2017
Links:
1. Website : http://VietTUDAN.net/
2. Facebooks : (a) Phuc Lien Nguyen, (b) Tudan Tudodanchu
3. Twitter: Phuc Lien Nguyen


Dưới Cơ chế CSVN, Xã hội tha hóa đến thác loạn và Kinh tế tụt hậu hoàn toàn sánh với những nước trong vùng, ngay cả với Lào và Cao Mên. Chúng tôi hoàn toàn xác tín rằng phải chôn vùi hẳn Cơ chế CSVN để có thể thăng hóa Xã hội và phát triển Kinh tế Lý do của tha hóa Xã hội và tụt lùi Kinh tế chính là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ & ĂN HỐI LỘ của mọi đảng viên đảng CSVN có quyền độc tài và đồng thời nắm giữ sinh hoạt kinh tế. Khi mà tham nhũng, lãng phí & ăn hối lộ lan tràn, thì tự đấy phát sinh gian xảo, dối trá được che đậy bằng Luật pháp độc tài làm cho Xã hội không còn tin Nhà Nước và người trong Xã hội nghi kỵ nhau. Một nền Kinh tế bị tham nhũng, lãng phí & ăn hối lộ hoành hành, thì không thể nào có phát triển, thậm chí còn đi thụt lùi.

Với Bài MỞ ĐẦU cho Chủ đề: THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ & ĂN HỐI LỘ, chúng tôi sẽ đề cập đến những điểm sau đây:

=> Nhận định của những Lãnh tụ Chính trị đã sống và điều hành Thể chế Cộng sản

=> Cái nhìn hữu lý về Cơ chế Cộng sản

=> Khai triển Chủ đề bằng những Bài tiếp theo


Nhận định của những Lãnh tụ Chính trị
đã sống và điều hành Thể chế Cộng sản

Chúng tôi xin trích dẫn ra đây những câu tuyên bố đầy kinh nghiệm và xác tín của những Lãnh đạo Chính trị được Thế giới biết đến.

1.         Đức Đạt-Lai Lạt-Ma (Dalai Lama), Lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng:

"Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh sản nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời"

"Cộng sản sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực, chết đi trong sự khinh bỉ của toàn thể nhân loại"

2.         Cựu Tổng thống đảng Cộng sản Liên sô, ông Mikhail Gorbachev:

"Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng CS. Ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng:"Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá!""

3.         Tổng thống Nga sô, ông Boris Yeltsin:

"CS không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó"

4.         Tổng thống Nga sô, ông Vladimir Putin:

"Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời CS là không có trái tim"

5.         Nữ Thủ tướng Đức quốc, bà Angela Merkel:

"CS đã làm cho người dân trở thành gian dối"

6.         Bí thư đảng Cộng sản Nam Tư, ông Milovan Djilas:

"20 tuổi mà theo CS là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ CS là không có cái đầu"



Cái nhìn hữu lý về Cơ chế Cộng sản

Phải tìm ra cái căn bệnh làm tha hóa Xã hội và thụt lùi Kinh tế , đó chính là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ. Thực vậy, chính cái căn nguyên này gây ra những hậu quả sau đây:
* Gian dối, xảo trá, lừa đảo giữa các đảng viên với nhau, giữa các cấp điều hành công việc chung của nhà nước.
* Tìm bán mọi tài nguyên của quốc gia để bỏ túi riêng mỗi đảng viên
* Bán Lãnh thổ và Lãnh hải cho ngoại bang
* Ăn cướp tài sản của dân chúng
* Bán Lao động Việt Nam cho tài phiệt nước ngoài
* Bán Phụ nữ để làm nô lệ tình dục
* Các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước không những lười biếng, mà còn thụt két, thua lỗ

THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ phát sinh và lan tràn từ đâu ?

THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ không phải là cá nhân mà do chính Cơ chế

Nếu là cá nhân, có thể bắt tù bắt tội để làm giảm THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ, nhưng nếu là Cơ chế quyền lực CSVN, thì không thể bắt Cơ chế phải tù tội. Bốn điểm sau đây cho thấy THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ được sinh ra và phát triển lan tràn từ chính Cơ chế mà đảng CSVN bất lực không thể chống lại được:

@        Điểm thứ nhất:

ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM TRỌN QUYỀN KINH TẾ

Khi nối liền quyền Chính trị với quyền Kinh tế, thì chủ trương này tự nó làm phát sinh THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ và làm cho nó phát triển, lan tràn khắp đảng viên của đảng. Lớn tham nhũng, lãng phí, ăn hối lộ lớn; bé tham nhũng, lãng phí, ăn hối lộ bé. Quyền lực Chính trị mà ngồi bên đống vàng Kinh tế thì thế nào cũng nhặt ít thỏi vàng bỏ vào túi riêng vì “Nhân chi sơ tính tham lam”.

@        Điểm thứ hai:

ĐỘC ĐẢNG NẮM TRỌN QUYỀN TRUYỀN THÔNG

Khi một người THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ, không còn lương tâm từ chính mình nữa, thì tối thiểu dư luận người khác có thể làm mất thanh danh mình cũng có thể ngăn cản việc ăn hối lộ, tham nhũng, lãng phí. Nhưng khi đảng CSVN nắm trọn quyền truyền thông, nghĩa là khóa miệng người khác không được đàm tiếu đến những việc tồi bại, đe tiện của mình, thì THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ vô lương tâm được xổ lồng tự do hoành hành như chỗ không người.

@        Điểm thứ ba:

CHÂN MÌNH NHỮNG LẤM ĐÊ MÊ, LẠI CẦM BÓ ĐUỐC MÀ RÊ CHÂN NGƯỜI

Lớn tham nhũng lớn, bé tham nhũng bé. Thằng đảng viên nào cũng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ. Chân đứa nào cũng lấm bùn đê mê, thì làm thế nào mà dám khui ra THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ của đứa khác. Trọng lú đe dọa “kỷ luật” Thăng, thì Thăng cũng đe dọa khui ra vợ của Trọng lú. Cách đây 20 Thế kỷ, người ta muốn ném đá giết chết một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Đức Giêsu không cần phải nói bênh đỡ cho người đàn bà, mà chỉ lặng thinh viết xuống đất:”Ai là người sạch tội, hãy cầm đá ném người đàn bà này!”. Thế là người ta từ từ rút lui không dám ném đá người đàn bà nữa, người già tháo lui trước, người trẻ lỉnh đi sau !

@        Điểm thứ tư:

            DIỆT THAM NHŨNG THỰC SỰ LÀ PHẢI CHÔN VÙI CHÍNH CƠ CHẾ CSVN

Cơ chế CSVN chủ trương Độc tài Chính trị nắm trọn Quyền Kinh tế, từ đó mới phát sinh và lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ. Vì vậy, muốn diệt trừ được thực sự những tệ đoan này, phải diệt hẳn đi cái Cơ chế CSVN. Nhưng chôn vùi hẳn đi cái Cơ chế này, thì những đảng viên CSVN hết chỗ ăn cướp mà sống. Thực vậy, cái Cơ chế CSVN giống như bãi PHÂN, ở đó những giòi THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ sinh ra và lớn lên nhung nhúc. Không thể chọn ra từng con giòi để giết, mà phải lấy xẻng HỐT HẲN ĐỐNG PHÂN ĐI, thì mới sạch được THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ.


Khai triển Chủ đề bằng những Bài tiếp theo

Chúng tôi sẽ tiếp tục khai triển Chủ đề THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ & ĂN HỐI LỘ bằng những Bài viết được quy tụ trong những Phần chính sau đây:

1)         PHẦN I

THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ của đảng CSVN là việc sử dụng quyền quản trị Quốc gia để vi phạm bất công đối với tài sản chung của Quốc gia và đối với tài sản riêng của người Dân. Đâu có BẤT CÔNG, thì đó có ĐẤU TRANH ! Như vẫy hệ luận trực tiép từ Bất công vi phạm bởi đảng CSVN chính là việc Đấu tranh của Dân một nước chống lại Bất công do CSVN gây ra. Từ nhiều thập niên, những nhà trí thức trí ngủ luôn luôn đấu tranh dưới phạm trù NHÂN QUYỀN lùng bùng co dãn như dây thung để CSVN dễn lừa đảo. Trong phạm trù co dãn lùng bùng ấy, những quan điểm về Tự do, Dân chủ, quyền Lập hội, quyền Tự do Tôn giáo… được nêu ra để đấu tranh mà CSVN dễn lừa đảo, đồng thời quần chúng cũng không tha thiết cho lắm. Chính vì vậy mà cuộc đấu tranh nhiều thập niên không mang lại kết quả cụ thể. Ngày nay, từ vấn đề THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ, chúng ta đấu tranh cụ thể cho NHÂN SINH chống lại Bất công cướp bóc phương tiện nuôi sống thân xác của người dân. Quần chúng tất nhiên hoàn toàn tha thiết và hiểu thấu vấn đề NHÂN SINH này vì nó liên hệ trục tiếp đến bụng đói, QUYỀN DẠ DẦY (Stomach Right) mà CSVN không thể cắt nghĩa đây là Đây là đấu tranh Chính trị mà chúng thường gán cho những ai đấu tranh cho Tự do, Dân chủ…NHÂN QUYỀN. Hãy bỏ những Phong trào đấu tranh NHÂN QUYỀN lùng bùng co dãn cũ rích để chuyển sang đấu tranh NHÂN SINH, DÂN SINH cụ thể đối với quần chúng mà CSVN không thể vu khống đây là đấu tranh Chính trị.

2)         PHẦN II

Viết cho những người của đảng CSVN còn muối lương tâm và chai mặt cố thủ giữ lại Cơ chế để tiếp tục ăn cắp tài sản quốc gia và ăn cướp trắng trợn tài sản của đồng bào Việt Nam. Viết cho những người làm chính trị xu thời, dưới chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp, muốn bắt tay với CSVN để chia phần ăn cướp tài sản của đất nước và của đồng bào ruột thịt. Viết cho Tuổi Trẻ phát nhất quyết dứt bỏ hẳn Cơ chế CSVN để mới có thể thăng tiến Xã hội và phát triển Kinh tế cho Quê Hương Việt Nam.

3)         PHẦN III

Đưa ra những Nhận định của chính những Hội thảo Nhà nước và Quốc tế xác nhận nguyên do thụt lùi Kinh tế là do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ & ĂN HỐI LỘ. Trích dẫn ra những trường hợp phá sản của những Tập đoàn Kinh tế Quốc doanh như Dung Quất, Vinashin, Vinaline...

4)         PHẦN IV

Tham nhũng, Lãng phí & Ă Hối lộ trong những Dự án quốc gia. Sự xuống cấp nhanh chóng của những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở cũng do tham nhũng, lãng phí & ăn hối lộ trong việc sử dụng những vật liệu kém chất lượng. Việc tham nhũng, ăn hối lộ của nhà cầm quyền đã  làm cho hàng hóa Tầu lan tràn giết Kinh tế Việt Nam tại sân nhà. Tham nhũng, Lãng phí & ăn Hối lộ đang biến Việt Nam thành bãi xả rác kỹ nghệ cho Tầu và quốc tế.

5)         PHẦN V

Hy vọng vào Ý chí của Tuổi trẻ. Việt Nam vẫn còn nguồn Nhân lực và Nguồn vốn chu kỳ tái tạo (Capital renouvellable) để phát triển Kinh tế. Điều kiện tiên quyết là phải chôn vùi hẳn Cơ chế CSVN để mới có thể thăng hóa Xã hội và phát triển Kinh tế trong một Môi trường Chính trị--Luật pháp Dân chủ phù hợp (Envỉonnement Politico-Ju ridique Démocatique Adéquat)

Bài KẾT LUẬN tổng quát cho Chủ đề

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.05.2017. Cập nhật 01.06.2017
Facebooks :  (1) Phuc Lien Nguyen  & (2) Tudan Tudodanchu
Chú thích : Một số người vì phe nhóm, đã cố tình viết lệch lạc về Lý Lịch của tôi, nên tôi xin phép cho ở đây cái Link
                       https://www.facebook.com/viettudan /


__._,_.___

Posted by: NGUYEN PHUC LIEN 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts